Saturday, November 27, 2021
HomeLịch Sử Thế GiớiHy LạpLịch sử Hy Lạp cổ đại (Thế kỷ XI – IV TCN)...

Lịch sử Hy Lạp cổ đại (Thế kỷ XI – IV TCN) – Phần 3 : Văn hoá Hy Lạp cổ đại

Nền văn hóa Hy Lạp vô cùng rực rỡ, phát triển phong phú, đa dạng và toàn diện, đỉnh cao của văn minh cổ đại mẫu mực của nhiều nền văn hóa trong các thời kỳ lịch sử khác nhau. Văn hóa Hy Lạp tồn tại và phát triển trước hết và chủ yếu dựa trên nền tảng của sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế công thương nghiệp và mậu dịch hàng hải và trên nền tảng của nền chính trị ưu việt của thế giới cổ đại – nền dân chủ chủ nô, nhất là trên cơ sở của sự phát triển đến cao độ, điển hình của chế độ chiếm hữu nô lệ.

a) Văn học.

Trên cơ sở mẫu tự của người Phénicie, người Hy Lạp đã cải biên và sáng tạo ra hệ thống mẫu tự Hy Lạp. So với hệ thống chữ tượng hình (Ai Cập), hình nêm (Lưỡng Hà), mẫu tự Hy Lạp đạt tới một trình độ cao, có khả năng hoàn thiện, khái quát hệ thống các ký hiệu biểu đạt tư duy. Hệ thống mẫu tự Hy Lạp chính là nguồn gốc của hệ thống chữ viết Slave hiện nay, là cơ sở để từ đó, người Roma sáng tạo ra hệ thống mẫu tự Roma, được truyền bá và sử dụng rộng rãi ở hầu hết các dân tộc trên thế giới. Nhờ hệ thống nẫu tự này, người Hy Lạp đã để lại cho hậu thế một di sản văn học vô cùng phong phú.

Thần thoại là một trong những hình thái văn học xuất hiện sớm nhất ở Hy Lạp. Mythologie[26] tiếng Hy Lạp là một tập hợp, tổng thể những truyện kể dân gian truyền miệng với những nội dung hoang đường, huyền hoặc kỳ ảo, gồm những truyện về sự sáng tạo thế giới, các đấng thần linh, các anh hùng dũng sĩ Hy Lạp… Thần thoại phản ánh nguyện vọng của nhân dân trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên, giải thích các hiện tượng tự nhiên, phản ánh cuộc sống lao động và những hoạt đông đời thường của chính người Hy Lạp. Thần thoại Hy Lạp đã hình thành và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử Hy Lạp (thời kỳ văn minh Crète- Mycène cho tới những năm tháng cuối cùng của sự phồn vinh của các quốc gia thành bang, xuất phát từ thực trạng kinh tế, xã hội, từ những tư tưởng triết học phong phú, đa dạng. Bởi vậy, ở Hy Lạp, ngay từ đầu, thần thoại vừa mang tính lịch sử xác thực, phản ánh thực trạng xã hội, vừa đậm đà chất hoang đường, duy lý và triết lý. Hầu hết các truyện thần thoại còn lại đến nay đều do những nhà thơ, nhà soạn kịch đương thời kể lại. Quá trình kể cũng là quá trình sắp xếp biên soạn, tái tạo lại theo những khuynh hướng nhất định[27], nhưng nhìn chung, thần thoại Hy Lạp dù hoang đường, dù có thần, thánh, nhưng ít bị tôn giáo đồng hóa, ít bị hòa vào tôn giáo, mà chỉ bị văn học nghệ thuật đồng hóa, hòa vào trong văn học, nghệ thuật, đồng thời chính nó lại cung cấp cho văn học nghệ thuật một nguồn đề tài phong phú. Thần thoại “là miếng đất màu mỡ nuôi dưỡng nghệ thuật Hy Lạp… tiền đề… vật liệu của nghệ thuật Hy Lạp”[28]

Thần thoại Hy Lạp giải thích về nguồn gốc Vũ trụ, nguồn gốc các thần linh. Thoạt đầu là Khaôx, một vực thẳm vô cùng, vô tận, hung dữ như biển khơi, tối đen, hoang dã. Khaôx sinh Gaia – tiếng Hy Lạp là Đất Mẹ – với bộ ngực nở nang, nền móng vững chắc của muôn loài. Gaia và Khaôx sinh ra Erêp (chốn tối tăm vĩnh cửu), Nix (đêm tối), Tartar (địa ngục), Erôx (tình yêu), Uranôx (bầu trời sao lấp lánh), Môntanhơ (núi non), Pôntôn (biển cả)…

Zeur (Ướt, tiếng Pháp: Zeus) – người Hy Lạp coi là thần chủ của họ – là con của thần Uranôx và nữ thần Nêa, đã xếp đặt lại thế giới thần linh và chọn đỉnh Ôlimpơ làm nơi trú ngụ của các thần[29]. Con người được các thần sáng tạo ra sau cùng. Thần thoại Hy Lạp kể rằng chính thần Prométhée đã lấy đất sét tạo nên con người, rồi sau đó đã đánh cắp lửa của Zeur cho con người tồn tại[30]. Cứ như vậy, hệ thống thần thánh của người Hy Lạp, được hình thành, sắp xếp theo một trật tụ uy quyền và trở thành các thần gắn bó với đời sống người Hy Lạp, bảo trợ cho các thành bang, cho các ngành nghề… Nữ thần Athéna – thần bảo trợ cho thành bang Athènes. Dionysos- thần bảo trợ cho nghề trồng nho và sản xuất rượu, Apôlông – thần ánh sáng và nghệ thuật. Aphrôđit – nữ thần tình yêu và sắc đẹp… Các thần thánh được mô tả trong thần thoại rất gần gũi với cuộc sống đời thường của người dân Hy Lạp: cũng yêu thương, ghen ghét, cũng giận, buồn, đố kỵ, đa tình, đa thê, ích kỷ…, thậm chí cũng bị chảy máu khi bị trúng thương,

Thơ là một thể loại văn học phổ biến và rất thành công của người Hy Lạp. Tập thơ lớn nhất và xuất hiện sớm nhất là hai tập Iliade là Odyssée[31]. Tác giả của tập thơ Gia phả các thần, Lao động và thời tiết là Hésiode, người xử Bêôxi (thế kỷ VIII TCN) đã phản ánh thời kỳ Hy Lạp lúc các thành bang mới ra đời. Từ thế kỷ VII, VI TCN, thơ trữ tình bắt đầu xuất hiện trên thi đàn Hy Lạp với những nhà thơ tiêu biểu: Parôt, Théognis, Ackilôc, Pindare (Panhđa), và nữ sĩ Sapho (Xaphô)…

Sapho là nhà thơ, nhà giáo[32] nổi tiếng với những bài thơ trữ tình, được người Hy Lạp coi là “nàng thơ thứ 10” (sau 9 nàng thơ trong thần thoại).

Kịch thơ là một trong những di sản văn học vô giá của người Hy Lạp, đậm đà tính nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn, có ý nghĩa giáo dục và chính trị. Hằng năm, vào mùa xuân, người Hy Lạp thường tổ chức những ngày lễ hội, nhất là tục lệ thần Dionysos. Trong các ngày lễ này, cư dân Athènes thường khoác áo da cừu, hóa trang đeo mặt nạ, ca hát diễn lại những sự tích thần thoại. Nghệ thuật ca kịch bắt đầu từ đó.

Từ thế kỷ V TCN, ở Hy Lạp đã xuất hiện nhiều nhà soạn kịch kiệt xuất với những tác phẩm tuyệt tác gồm hai thể loại: bi kịch và hài kịch.

b) Sử học.

Từ thế kỷ V TCN, người Hy Lạp bắt đầu có lịch sử thành văn và xuất hiện những nhà viết sử chuyên nghiệp. Sử học Hy Lạp được coi là cội nguồn của sử học phương Tây.

Hérodote (485-484-425 TCN) là một trong những nhà sử học có tên tuổi. Ông không phải là công dân tự do Athènes; ông là người Mêtec, sống ở Athènes. Là một người thông minh, có kiến thức uyên bác, lại từng đi du lịch Ai Cập, Babylone, Tiểu Á, Hắc Hải… Hérodote đã viết nhiều tác phẩm sử học giá tri, trở thành “người cha của nền sử học phương Tây”. Hérodote có 9 tác phẩm viết về lịch sử Assyrie, Ba Tư, Ai Cập, Babylone, nhất là Lịch sử cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư viết xong năm 430 TCN[33]. Ca ngợi tinh thần dũng cảm, yêu nước vì nền độc lập tự do của người Hy Lạp, ca ngợi những chiến thắng lẫy lừng của Hy Lạp ở Marathon, Termophyle, Salamine… và đề cao tính chất chính nghĩa của cuộc chiến về phía người Hy Lạp.

Thucydide (460 ~ 455 – 400 ~ 395 TCN)[34] là nhà sử học làm việc với thái độ nghiêm túc, có sàng lọc, tác giả bộ sử nổi tiếng: Lịch sử cuộc chiến tranh Péloponèse. Ông là nhà sử học đầu tiên ở Hy Lạp ghi chép các sự kiện lịch sử trên cơ sở có khảo sát, nghiên cứu và chỉnh lý, có phê phán và giải thích các sự kiện lịch sử (bằng điều kiện tự nhiên, điều kiện vật chất, chế độ chính trị và tổ chức xã hội đương thời).

Tác phẩm Lịch sử Hy Lạp của Sénophone (Xênôphôn; 430-359 TCN) dù còn có những hạn chế, nhưng đã cung cấp cho các nhà sử học sau này nhiều tài liệu quý báu về tiến trình lịch sử Hy Lạp cho đến trước thế kỷ V TCN.

c) Khoa học tự nhiên.

Hy Lạp được coi là quê hương của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau của khoa học tự nhiên (thiên văn học, địa lý, toán học, vật lý sinh vật, y dược), là nơi sản sinh ra những con người khổng lồ, kiến thức uyên bác, với những thành tựu đáng giá, đóng góp cho kho tàng khoa học tự nhiên của lịch sử nhân loại. Toán học Hy Lạp với Thalès (thế kỷ VI TCN), Pythagore (Pythagore; 580-500 TCN), Euclide, Archimède (285-212 TCN)… đã vượt qua cách tính nhân, chia, cộng, trừ sơ cấp, vươn tới sự khái quát thành những định lý, tiên đề, nguyên lý vẫn được sử dụng trong toán học hiện đại: định lý Pythagore, định lý Thalès, định luật Archimède, tiên đề Euclide… Các nhà toán học Hy Lạp cổ đại đã phát minh và đặt cơ sở cho môn hình học. Họ đã tính được độ dài của chu vi Trái đất (39.700km), đường kính, diện tích và chu vi các hình với việc tìm ra giá trị của số đo π = 3,1324.

Thalès (thế kỷ VI TCN), nhà toán học, thiên văn học và triết học Hy Lạp, quê ở Millè. Người đầu tiên đo được chiều cao của Kim tự tháp nhờ phương pháp đo và tính bóng của nó trên mặt đất. Thalès cũng là nhà thiên văn học đầu tiên tính toán và dự báo chính xác ngày xảy ra nhật thực ở Millè – ngày 28-5-585 TCN.

Pythagore (580-500 TCN), nhà toán học nổi tiếng, quê ở đảo Xamôt (thuộc biển Égée) người theo chủ trương xây dựng nền chính trị bảo thủ nên đã bỏ Xamôt sang sống nam Hy Lạp, đã từng mở trường dạy học. Pythagore (và những học trò của ông) đã có công tổng kết những tri thức về số học, thiết lập nhiều công thức, định lý toán học trong đó có định lý Pythagore “Tổng bình phương của hai cánh góc vuông bằng bình phương của cạnh huyền trong một tam giác”. Pythngore còn là nhà thiên văn học tiến bộ thừa nhận Trái đất hình cầu, chuyển động theo một quỹ đạo nhất định.

Archimède (285-212 TCN), nhà vật lý có tên tuổi nhất, người chế tạo ra những hệ thống máy móc đầu tiên ở Hy Lạp, quê ở Sicile (thành bang Xiracudơ), tác giả của định luật Archimède, người phát hiện ra sức đẩy của nước (bằng chính trọng lượng của vật ở trong nước), phát hiện ra nguyên lý của phép đòn bẩy. Khi Rôma tấn công Xiracudơ, Archimède đã phát minh ra nhiều vũ khí, máy móc để bảo vệ thành: kính hội tụ để sử dụng ánh nắng Mặt trời đốt cháy chiến thuyền Rôma; máy bơm nước sử dụng tay để hút nước cho các chiến thuyền Hy Lạp: Archimède cũng là người tìm ra giá trị của số π = 3,1324. Aarchimède bị quân Rôma giết chết ngay trong phòng thí nghiệm của ông ở Xiracudơ.

Euclide (nửa đầu thế kỷ III TCN), nhà toán học quê ở Alexandrie (Ai Cập) người có công tập hợp nhiều nhà toán học và nhiều công trình toán học về Alexandrie, người đầu tiên biên soạn sách giáo khoa hình học. Về thiên văn học.

Về thiên văn học, người Hy Lạp cũng có những thành tựu và đóng góp đáng kể với tên tuổi của các nhà thiên văn sáng giá: Thalès, Pythagore, Arixtac (khoảng thế kỷ III TCN), Eraxtôten (281-192 TCN), Hêcataut. Các nhà thiên văn Hy Lạp đã nghiên cứu và công bố những bản đồ thiên văn Babylone, dự đoán được ngày nguyệt thực, nhật thực (Thalès); thừa nhận quả đất hình cầu và chuyển động theo một quỹ đạo nhất định (Pythagore); đề ra học thuyết về hệ thống Mặt trời và thuyết Trái đất tự xoay quanh nó và xoay quanh Mặt trời (Arixtac, người đảo Xamôt)[35], tính được độ dài của chu vi quả đất với con số tương đối chính xác 39.700km (Eraxtôten, người ở Alexandrie); vẽ được bản đồ dầu tiên của thế giới[36] (Hêcataut); tính được một năm có 365 ngày và 5/19 của ngày (Mêtôn, thế kỷ V TCN).

Về y học, Hippocrate (460-377 TCN) được coi là “ông tổ của khoa học y dược”, là người đả phá mạnh mẽ những tư tưởng mê tín, dị đoan trong chữa bệnh, đề ra việc chữa bệnh bằng phương pháp khoa học và yêu cầu đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp đối với các thầy thuốc.

Hêrôphin (đầu thế kỷ III TCN) là người đầu tiên nêu ra luận điểm não là trung tâm hệ thần kinh, chỉ huy các hoạt động của con người. Ông cũng là người đầu tiên đưa ra học thuyết về sự tuần hoàn của máu và phương pháp khám bệnh thông qua việc bắt mạch (nhanh, chậm) của bệnh nhân.

Héraclide – người xứ Tarentum – nổi tiếng trong giới phẫu thuật Hy Lạp. Tương truyền, khi mổ xẻ, Héraclide đã sử dụng thuốc mê để giảm sự đau đớn cho bệnh nhân.

d) Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và hội họa.

Tiếp thu và chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Crète, Ai Cập, Babylone, người Hy Lạp (từ thế kỷ V TCN) đã tạo nên nền nghệ thuật hoàn mỹ, đậm tính hiện thực, tính dân tộc “đem lại cho chúng ta sự thỏa mãn về thẩm mỹ, được dùng làm tiêu chuẩn, mẫu mực mà chúng ta khó có thể vươn tới”[37].

Trong các thành bang Hy Lạp, đâu đâu cũng có những công trình kiến trúc đẹp đẽ, đồ sộ, nguy nga: nhà ở đền miếu, kịch trường, sân vận động…, thể hiện phong cách Hy Lạp. Đáng kể nhất là đền thờ thần Zeur (ở Ôlempi), đền thờ nữ thần Athéna (trên đảo Êgin), nhất là đền Parthénon (ở Athènes) được xây dựng dưới thời Périclès.

Parthénon được coi là kiệt tác của kiến trúc đền thờ cổ đại Hy Lạp. Đền thờ nữ thần Athéna – thần bảo hộ thành bang Athènes – do kiến trúc sư Ichtinos vẽ theo sự hướng dẫn của nhà điêu khắc thiên tài Phidias. Đền được khởi công xây dựng từ năm 447 TCN, cơ bản hoàn thành vào năm 432 hoặc 431 TCN, dài 70m, ngang 31m, cao 14m, nhìn từ xa, ngôi đền vừa trang nghiêm, vừa cân xứng, hài hòa, trang nhã. Toàn bộ ngôi đền bằng đá, được xây dựng trên một nền trụ đá, với 3 bậc, xung quanh có 46 cột tròn, trang trí theo phong cách Đôrien (hay Đôrich). Trên các tường, có những phù điêu lấy từ đề tài các truyện thần thoại hay diễn tả cảnh sinh hoạt kinh tế, xã hội Athènes. Trong đền có tượng nữ thần Athéna, cao 12m bằng gỗ khảm vàng và ngà voi do Phidias thể hiện[38] (Xem thêm các mục ở dưới: Đền Athéna, đền Parthénon và quần thể Acropole..).

Nghệ thuật điêu khắc của người, Hy Lạp cổ đại cũng được xem là một mẫu mực hoàn mỹ của điêu khắc thế giới. Những tác phẩm nổi tiếng gắn liền với tên tuổi của các nhà điêu khắc tài ba. Tượng Người ném đĩa của Mirông, tượng Thần Hermès và Thần Vệ Nữ của Praxiten, tượng Nikê ở Samôtơrat hay Nữ thần Chiến Thắngbằng đá cẩm thạch, đặt trên một bệ đá (cũng bằng đá cẩm thạch) với đôi cánh thần lộng lẫy. Các pho tượng Nữ thần Athéna của Phidias (nhất là pho tượng Athéna trong đền Parthénon), tượng Người chỉ huy chiến đấu (đặt ở Quảng trường Athènes), tượngThần Zeur khảm ngà voi và vàng đặt trong đền thờ thần Zeur tại Quảng trường Antix ở Ôlempia.

Về hội họa, người Hy Lạp cũng có những sáng tạo thành công với các bức vẽ trên vải, trên tường và trên các đồ gốm, sành, sử (kể cả gốm màu).

Pôlinhôt là tác giả của tranh khổng lồ Chiến dịch Marathon. Apôtôđo đã phát minh ra phép bối cảnh trong hội họa, chú ý đến khoảng cách xa, gần cần thiết của các nhân vật và cảnh vật trong tranh. Tiếc rằng cho tới nay không còn lưu giữ được các tác phẩm vô giá của Pôlinhôt và Apôtôđo[39]

* Đền Athéna và quần thể kiến trúc Acropole.

Akropolis_by_Leo_von_Klenze.jpg

Nữ thần Athéna, một vị thần nổi tiếng trong các truyền thuyết cổ Hy Lạp, là người bảo vệ kinh đô nước Hy Lạp xưa (nay là thành phố Athènes, Thủ đô Hy Lạp). Người dân Hy Lạp đã xây dựng một quần thể kiến trúc tuyệt vời để thờ phụng nữ thần Athéna trên một ngọn đồi là Acropole. Quần thể kiến trúc Acropole gồm có đền Parthénon, đền Erechtheion, cổng Propylées, đền Nikê và tượng nữ thần Athéna. Các nghệ sĩ Hy Lạp đã dành tất cả tâm huyết tôn thờ nữ thần Athéna bằng những kiệt tác kiến trúc và điêu khắc. Đền Parthénon được liệt vào danh sách bảy kỳ quan của thế giới cổ đại. Tác giả phần kiến trúc là các kiến trúc sư Ichtinos và Callicrates đã thiết kế và chỉ đạo xây dựng ngôi đền từ năm 447 đến năm 438 TCN. Phần điêu khắc được nghệ sĩ bậc thầy Phidias hoàn thành vào khoảng năm 431 TCN. Ngôi đền được làm bằng đá cẩm thạch theo hệ thống kiểu cột Dorich (Dorien) mạnh mẽ và trang nghiêm, có tỷ lệ đẹp đẽ nhất[40], đã trở thành chuẩn mục của kiến trúc cổ điển phương Tây. Đền Erechtheion cũng là một kiệt tác của kiến trúc Hy Lạp, nhưng theo hệ thống cột Iônic, tác giả là kiến trúc sư Phiôclex đã đưa ra một dạng cột độc đáo là cột hình thiếu nữ được gọi là Cariatit. Tượng sáu cô gái đẹp duyên dáng với những nếp áo mềm mại đứng thay vị trí các cột đá làm nhiệm vụ đỡ các đầm mái. Dạng cột Cariatit từ đây được phổ biến trong kiến trúc cổ điển phương Tây.

* Đền Parthénon trên đồi Acropơle ở Athènes, Hy Lạp.

Acropole là tên gọi của những quần thể công trình đền đài, tường thành, xây dựng trên những khu đồi cao, dùng vào mục đích lễ nghi hay tôn giáo. Khi ta dùng chữ Acropole với chữ A viết hoa ở đầu, điều đó có nghĩa là Acropole ở Athènes, cao 70m so với khu vực xung quanh, có kích thước 300m x 130m, được xây dựng vào thế kỷ V TCN.

Trên đồi Acropole ở Athènes, Parthénon là ngôi đền đẹp nhất Hy Lạp lúc bấy giờ, được thiết kế và chỉ đạo thi công bởi hai kiến trúc sư kiệt xuất thời Cổ đại là Ichtinos và Callicrates, xây dựng trong khoảng những năm 447-438 TCN. Phần điêu khắc do Phidias làm đến năm 431 TCN mới hoàn thành.

Đền Parthénon trên mặt bằng được chia làm ba phần rõ rệt. Pronaos (tiền sảnh), Naos (gian thờ, có chỗ để tượng nữ thần Athéna phần cuối), và Opictodom (phòng để châu báu).

Ngôi đền có hành lang cột bao quanh, hai mặt chính có 8 cột, hai mặt khác có 17 cột, dùng thức cột Dorich, và vì do chú ý đến sự tương quan đến kích thước con người, cho nên trông dáng vẻ rất sáng sủa, cao sang, nhẹ nhàng và gần gũi.

Công trình dùng loại đá cẩm thạch trắng, có bề mặt bình thường lạnh và dịu, những khi tiếp xúc với ánh nắng hay hơi ẩm thì bề mặt trở nên sáng hơn và ẩm hơn các phần trên của mái (bộ phận sơn tường hình tam giác với các chi tiết trang trí lại được dùng màu sắc mạnh mẽ để bộc lộ vẻ hào hoa, rực rỡ. Narthéno có kích thước 30m x 70m. Ngoài những giá trị về kiến trúc, về điêu khắc cũng rất có giá trị.

* Lăng mộ ở Halicarnasse.

29d0d7c7984811567f58b83d5af17a5b.jpg

Sau thời đại xây dựng Parthénon, Hy Lạp chuyển từ giai đoạn cổ điển thịnh kỳ sang cổ điển hậu kỳ.

Công trình kiến trúc nổi tiếng nhất thời kỳ này là lăng mộ nhà vua Mausole (Môđôlơ) ở Halicarnasse Thành phố Halicarnasse là thủ phủ của Vương quốc Carie, nằm trên phần đất Tây Á, ngay sát biển Égée. Tòa lăng ở Halicarnasse có niên đại xây dựng vào khoảng năm 350 TCN, là ngôi mộ lớn nhất và công phu nhất thời bấy giờ, do Hoàng hậu Artémise xây dựng cho chồng là vua Mausole. Lăng mộ Halicarnasse là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại, nhưng cũng là dấu ấn cuối cùng đánh dấu sự tan rã của chế độ nô lệ của Hy Lạp cổ đại. Đó cũng là cố gắng cuối cùng của một triều vua, vì thế giới Hy Lạp cổ đại vốn không ưa chuộng loại lăng mộ lớn. Kiến trúc công trình lăng mộ ở Halicarnasse co hình khối lớn và bố cục nghiêm chỉnh. Có thể giải thích sự đồ sộ của nó bằng việc thời đại Hy Lạp hậu kỳ, nghệ thuật chịu ảnh hưởng lớn của nghệ thuật phương Đông.

Công trình chia làm ba phần. Tầng đế lớn nhất ở bên dưới là tầng để thi hài, được xây dựng bằng đá với phần tiếp đất được nới rộng ra theo kiểu tam cấp. Ở tầng hai, bên trong có phòng tế lễ, bên ngoài có hàng cột thức bao quanh, vì vậy hình thức kiến trúc của tầng này có phần nhẹ nhàng, tương phản với khối đặc bên dưới do việc những không gian hở được tạo thành tới hàng cột thức, cùng với việc đặt các bức tượng giữa các cột, và những thành phần này đổ bóng xuống mặt tường phía sau. Chính vì vậy, ở đây, các hình thức kiến trúc và điêu khắc rất linh hoạt, mang sắc thái rất uyển chuyển. Phần thứ ba trên cùng là một khối mái cổ, hình giống như một Kim tự tháp, giật cấp nhỏ dần lên trên và lên đến đỉnh thì kết thúc bằng một cụm tượng Mausole.

Trong kiến trúc, lăng mộ ở Halicarnasse thuộc loại mộ đền (Hêrêông). Tác giả công trình kiến trúc này là kiến trúc sư Pithéos (Pitêôx), một nhà kiến trúc cổ đại nổi tiếng, trong khi đó điêu khắc của tòa lăng do bốn nhà điêu khắc tài năng nhất đương thời đứng đầu là Scopas và Leochares đảm nhiệm.

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, thời gian và chiến tranh, vì động đất vì cướp bóc, vì căm ghét nhau giữa các giòng tôn giáo nên lăng mộ Halicarnasse bị mai một dần. Đến thế kỷ XVI, người Thỗ Nhĩ Kỳ đã làm cho lăng mộ ở Halicarnasse trở thành bình địa. Sau này, qua gần một thế kỷ rưỡi khai quật và thu lượm, căn cứ vào một số chi tiết còn thu lượm được, người ta đã cố gắng tạo dựng lại hình ảnh của tòa lăng lúc ban đầu. Đề án phục chế của Kiêcson làm từ năm 1923-1928, có lẽ là đề án phục chế chân thực nhất. Dầu sao thì hình thức của lăng mộ Halicarnasse đã ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định một hình mẫu cơ bản cho các tòa lăng của các danh nhân sau này, kể cả các lăng mộ danh nhân của thế kỷ XX.

Lăng mộ của Mausole lúc đầu là một tên riêng, sau đó dần dần thoát ra khỏi trường hợp bó hẹp đó để trở thành tên chung dùng để gọi những ngôi mộ có quy mô lớn được xây dựng cho những danh nhân. Chữ “lăng” trong nhiều thứ tiếng Mosole, Mausolée, Mauzoleum, Mavzalei có xuất xứ ban đầu của nó từ ngôi mộ của vua Mausole ở miền Carie nằm trên bờ Địa Trung Hải này.

đ) Triết học cổ Hy Lạp.

Hy Lạp là quê hương của nền triết học phương Tây, được hình thành trên cơ sở của nền kinh tế công thương nghiệp phát triển, xã hội chiếm hữu nô lệ đạt tới mức cao và trên nền tảng của những thành tựu khoa học tự nhiên, ít bị chi phối bởi tôn giáo. Ngay từ xa xưa, người Hy Lạp đã sản sinh ra những tư tưởng triết học với các hình thái, xu hướng khác nhau, phản ánh những quan điểm của các giai cấp – với các khuynh hướng kinh tế và chính trị – khác nhau trong xã hội chiếm hữu nô lệ Hy Lạp, đồng thời cũng phản ánh cuộc xung đột gay gắt, quyết liệt giữa các giai tầng này.

Triết học Hy Lạp cổ điển có nhiều trường phái[41], tập trung trong hai phái đối lập nhau: phái duy tâm và phái duy vật.

Đại biểu xuất sắc nhất của trường phái triết học duy vật ở Hy Lạp là các nhà triết học nổi danh: Thalès (640 – 548 TCN), Anaximăng (611-545 TCN), Anaximen (585-525 TCN), Hêraclit (540-48 TCN), Anasagoras (Anaxago; 500-428 TCN), Empedocles (Ampêđôc; 490-430 TCN), Démocrite (Đêmôcrit; 460-370 TCN), Epicure (Êpiquya; 341-270 TCN).

Nét nổi bật của triết học duy vật là các nhà triết học đều cho rằng thế giới là do vật chất tạo thành, có vận động và có biến đổi, tuy rằng quan niệm vật chất tạo thành thế giới của mỗi nhà triết học có khác nhau. Thalès cho rằng nước là các bản chất của vạn vật, nước luôn thay đổi hình thái và vì thế chính nước đã sản sinh ra các vật thể khác nhau.

Anaximăng lại cho rằng nguồn gốc của vũ trụ là vô cực, vô cùng rối ren và phức tạp, luôn chia thành những mặt đối lập nhau như khô và ướt, nóng và lạnh, chính các mặt đối lập này lại kết hợp với nhau và tạo ra vạn vật.

Ngược lại với Thalès Anaximen lại cho rằng nguồn gốc của vạn vật bắt đầu từ không khí, nhờ không khí và sự chuyển động của nó, vạn vật trong Vũ trụ được tạo ra và sau đó lại quay về dạng không khí.

Hêraclit cho rằng lửa là bản chất của vạn vật, đặc biệt Hêraclit đã nêu ra những tư tưởng duy vật biện chứng, nhấn mạnh đến tính chất vận động của vật chất thông qua sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập, mọi sự vật đều vận động, mọi sự vật đều biến đổi “Người ta không bao giờ có thể tắm hai lần trong một dòng sông”.

Với Empedocles thì vạn vật được sinh ra không phải do đơn tố, mà do cả bốn yếu tố vật chất cấu tạo thành, đó là: đất, lửa, không khí và nước.

Phát triển những tư tưởng của các nhà triết học trước đó, Anasngoras cho rằng vạn vật trong vũ trụ là do vô số các nguyên tố tạo nên, các nguyên tố trong quá trình phát triển chia thành nhiều nguyên tố mới, kết hợp với nhau tạo nên vật chất theo quy luật của Vũ trụ mà Anasagoras gọi là “lý tính Vũ trụ”?

Démocrite[42] sau đó là Epicure, phát triển học thuyết của Empedocles, Anasagoras, cho rằng nguyên tử – đơn vị vật chất nhỏ nhất không thể bị phân chia nữa – với các kích thước (to, nhỏ) và trọng lượng khác nhau là nguyên tố đầu tiên và cuối cùng tạo nên vạn vật.

Nhìn chung, do hạn chế của thời đại (trình độ phát triển kinh tế, cũng như trình độ khoa học – kỹ thuật), các nhà triết học duy vật của Hy Lạp cổ đại chưa thể giải thích tự nhiên một cách chính xác và không giải thích được mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Những tư tưởng duy vật còn mang nặng tính thô sơ máy móc. Tuy nhiên, các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã đặt cơ sở cho sự phát triển của triết học duy vật biện chứng sau này.

Những đại biểu xuất sắc của trường phái triết học duy tâm ở Hy Lạp là: Protagorate (Prôtagôrat; 481- 411 TCN), Goocgiat (483-375 TCN), Socrate (469-399 TCN), nhất là Platon (427-347 TCN) và Aristoles (384-322 TCN).

Về mặt nhận thức, các nhà triết học duy tâm đều cho rằng không có chân lý khách quan, chỉ có nhận thức chủ quan tương đối. Chỉ có các thần thánh mới có thể nắm được nhận thức tuyệt đối và chân thực. Chính bản thân Socrate đã sử dụng thái dộ hoài nghi đe xem xét các hiện tượng, sự vật và cũng để xem xét các vấn đề chính trị, xã hội ở Athènes.

Là học trò của Socrate, Platon đã tiếp thu, phát triển học thuyết duy tâm của các bậc tiền bối và trở thành nhà triết học duy tâm lớn nhất của Hy Lạp. Platon cho rằng trong Vũ trụ chỉ có những “ý niệm” mới là chân lý và thực sự tồn tại “ý niệm” đó là cố định, bất biến, siêu thời gian và không gian, có tính chất vĩnh hằng, toàn bộ thế giới thực tại chỉ là sự phản ánh nghèo nàn của “ý niệm”? Platon luôn lên án những nhà cải cách dân chủ ở Athènes, gọi Ephiantet là “kẻ đã mê hoặc quần chúng bằng những quyền tự do dân chủ quá trớn”, ông kêu gọi xóa bỏ chế độ dân chủ ở Athènes và nêu ra một thiết chế xã hội lý tưởng, trong tác phẩm Nước lý tưởng, Platon đưa ra một Nhà nước do ba tầng lớp người hợp thành với những quyền hạn và nhiệm vụ khác nhau. Tầng lớp nắm chính quyền là các vương công, quý tộc và các nhà hiền triết, bao gồm những người thông minh, chính trực, có đạo đức và học vấn, Tầng lớp thứ hai là các võ sĩ có nhiệm vụ bảo vệ Nhà nước, giữ gìn trật tự trị an, đàn áp các sự chống phá, Tầng lớp thứ ba là những người bình dân: nông dân, thợ thủ công, những thương nhân phải cần cù lao động cung cấp mọi vật phẩm cần thiết để nuôi sống xã hội.

Aristote là học trò của Platon, là người Macédoine, nhưng sinh sống ở Athènes. Aristote chịu ảnh hưởng của cả triết học Démocrite và triết học Platon. Ông cho rằng không có ý niệm ở ngoài vật chất thực tại, nhưng ông lại cho rằng nguyên nhân để kích thích sự phát triển của sự vật lại bắt đầu từ cái gọi là “lý tính Vũ trụ”? Có thể nói, Aristote là người thuộc phái “nhị nguyên luận”. Trong lịch sử Hy Lạp, Aristote là người đã thiết lập nên môn lôgic học và môn sinh vật học.[43]

Sơn Phạmhttps://rams-vnu.org
Yêu thích các môn khoa học xã hội, thích tìm hiểu và khám phá địa lý, lịch sử nơi mình ở và nhiều nơi trên thế giới.
RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Most Popular

Recent Comments