Saturday, November 27, 2021
HomeLịch Sử Thế GiớiHy LạpLịch sử Hy Lạp cổ đại (Thế kỷ XI – IV TCN)...

Lịch sử Hy Lạp cổ đại (Thế kỷ XI – IV TCN) – Phần 6 : Alexandre (336 – đại đế 323 TCN)[46]

Mới đây Macédoine đã tách ra khỏi Liên bang Nam Tư trở thành một nước cộng hòa độc lập và đã bầu Tổng thống. Cách đây hơn 23 thế kỷ, Vương quốc Macédoine gồm nước Cộng hòa Macédoine ngày nay, thêm một phần lãnh thổ của Bulgarie và một phần phía Bắc Hy Lạp. Trị vì vương quốc ấy trong 13 năm, từ năm 336 đến năm 323 TCN là một vị vua nổi tiếng vào bậc nhất trong lịch sử cổ Hy Lạp: Alexandre Đại đế (còn gọi là Alexandre III Đại đế).

Lúc còn nhỏ, Alexandre đã nổi tiếng là một cậu bé thông minh dĩnh ngộ. Có người đem đến bán cho vua cha là Philippe một con ngựa hay nhưng bất kham, nên không ai chế ngự được ấy thế mà sau đó nó phải một phép chịu theo sự điều khiển của cậu bé Alexandre chưa đầy 10 tuổi. Cậu có nhận xét: khi có người đến gần thì con ngựa lồng lên vì sợ cái bóng của người. Cậu bèn kéo con ngựa hướng mặt ngựa về phía Mặt trời, rồi bất thần nhảy lên lưng ngựa ra roi, con ngựa phi nước đại trước sự kinh ngạc của mọi người. Vua Philippe thốt lên: “Con ạ, vương quốc này quá nhỏ bé đối với con”.

Năm 343 TCN, vua Philippe II đã mời một trong những nhà hiền triết và bác học lớn nhất thời ấy là Aristole làm thầy học cho cậu bé Alexandre 13 tuổi. Aristote đã truyền thụ cho cậu học trò nhỏ của mình những kiến thức về khoa học, địa lý, lịch sử, triết học…, nhưng không làm cậu học trò thỏa mãn theo quan điểm chính trị của mình. Từ nhỏ, Alexandre đã theo cha chinh chiến nhiều năm nhằm chinh phạt các nước láng giềng như Hy Lạp và nhờ đấy mà học được nghệ thuật chiến tranh.

Năm 336 TCN, khi vừa tròn 20 tuổi, Alexandre kế vị ngôi vua[47].

Sau khi vua cha philippe bị ám hại, Alexandre quyết chí thực hiện ý đồ của vua cha chinh phục vùng châu Á.

Mùa xuân năm 334 TCN, sau khi chinh phục xong toàn bộ Hy Lạp, Alexandre cầm đạo quân 37.000 người mộ từ hầu hết các thành thị của Hy Lạp, tiến về phía Đông, lấy hết vùng Tiểu Á đến tận Jérusalem, tiến vào Ai Cập, Libye. Tại Ai Cập, ông đã xây dựng nên thành phố Alexandrie, thành phố phồn thịnh nhất của thời cổ Hy Lạp.

Năm 331 TCN, Alexandre đem quân vượt qua sông Tigre (con sông chảy qua thành phố Baghdad nước Iraq ngày nay) đánh bại đạo quân hùng hậu của vua Darius nước Ba Tư (tức là Iran ngày nay). Alexandre đã lần lượt chinh phục tất cả các thành phố vùng Trung Cận Đông cho đến bờ biển Ấn Độ.

Nhưng cũng chính vào lúc ấy thì Alexandre bị bệnh đột ngột qua đời ở tuổi 33, khi đang làm chúa tể một đế quốc rộng lớn mênh mông từ sông Danube đến biên giới Ân Độ.

Theo truyền thuyết, vợ và con gái của vua Darius nổi tiếng là những người đẹp nhất thời ấy. Darius bị Alexandre đánh bại phải bỏ chạy, không kịp mang theo vợ con. Sợ vợ con bị làm nhục, Darius viết thư cầu xin Alexandre đừng xúc phạm đến vợ con. Alexandre đã trả lời như sau: “Ta đánh nhà ngươi chứ không phải đánh vợ con ngươi. Vợ ngươi ta xem như mẹ ta, con ngươi ta xem như em gái ta, ngươi cứ yên tâm”. Alexandre ra lệnh cho quân sĩ đối xử với vợ con Darius như khi còn là Hoàng hậu và Công chúa. Sau này vì cảm cái ơn ấy khi nghe tin Alexandre qua đời, vợ Darius đã nhịn ăn và chết theo.

Alexandre rất gần gũi với binh sĩ, cùng chịu đựng gian khổ. Khi ông sắp chết, quân sĩ lần lượt diễu qua bên giường bệnh hôn tay ông. Đêm ông qua đời, mọi người thương khóc, cả thành phố không thắp đèn, đượm mùi tang tóc.

Alexandre Đại đế đã trở thành một nhân vật huyền thoại nổi bật nhất của thời cổ đại, tượng trưng cho lòng dũng cảm, cao thượng, ý chí vươn đến vinh quang của người anh hùng cổ Hy Lạp, được ca tụng suốt bao thế kỷ tiếp theo cho đến tận ngày nay. Cuộc đời ngắn ngủi nhưng hào hùng của Alexandre, đã là đề tài cho biết bao công trình văn học, nghệ thuật tái hiện lại tính cách anh hùng, hào hiệp của Alexandre, tài nghệ chỉ huy quân sự của Alexandre cũng như mô tả lại vô số chiến công hiển hách của Alexandre.

Vào thời ấy, oà cho đến bây giờ, các sử gia, các tướng lĩnh quân sự thời nay đều xếp ông vào hàng những tướng lĩnh quân sự thiên tài. Trong việc chinh phục các cuốc gia thời ấy sở dĩ ông là người chiến thắng vì ông nắm chắc được các yếu tố thành bại: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Alexandre không những là nhà quân sự thiên tài thời cổ đại Hy Lạp mà còn là nhà trị quốc tài ba. Alexandre cho thực hiện chính sách hợp nhất chủng tộc, khuyến khích người Macédoine lấy vợ người Ba Tư.

Mở đầu là việc Alexandre lấy Statera – con gái của Darius và sau là những tướng lĩnh của ông thì lấy con gái của các Tổng đốc Ba Tư.

Alexandre cho xây dựng Thủ đô Hy Lạp nổi tiếng trong lịch sử và cho lập triều đình tại Babylone.

Chú thích:

[1] Mãi tới năm 338 TCN Hy Lạp mới thực hiện việc thống nhất, nhưng sự thống nhất ấy lại được thực hiện dưới ách thống trị của người nước ngoài – người Macédoine

[2] Lúc đầu chỉ có 1 quan Chấp chính với nhiệm kỳ suốt đời. Từ thế kỷ VI TCN, số lượng quan Chấp chính tăng lên 9 người, rồi 10 người

[3] Trước đây, những người không có kẻ thừa kế, khi chết đi, toàn bộ tài sản của họ thuộc về sở hữu của thị tộc người quá cố

[4] 10 tư lệnh quân sự có Hội đồng tư lệnh, phụ trách toàn bộ công việc quân sự của Athènes

[5]

[6] Theo Hòa ước, đảo Chypre vẫn thuộc đế quốc Ba Tư

[7] Cảng Pirée được chia thành ba khu vực với ba cửa thông ra biển, hai cửa là quận cảng, một cửa là thương cảng

[8] Theo quy định, hàng hóa xuất, nhập khẩu phải đóng 2% thuế quan

[9] Hệ thống tiền tệ của Athènes nói riêng và cả Hy Lạp nói chung, Obole (Ôbôn) là đồng tiền có giá trị nhỏ nhất. 1 Drachme = 6 Obole; 1 Talăng = 6.000 Obole, 26,20kg

[10] Riêng lãi suất cho vay đối với những người đi buôn đường xa và trên biển – nghề buôn hay gặp những nguy hiểm, có khi chết người và mất hết tài sản – thường cao hơn, có trường hợp là 100%

[11] Trong trận Eurimédon (ơrimêđông; năm 468 TCN), Athènes đã bắt được 20.000 quân Ba Tư biến thành nô lệ

[12] Chủ nô Athènes rất ưa dùng những nô lệ có quê hương xa Athènes, vì không những họ đảm bảo đủ phẩm chất, sức khoẻ, lại không hiểu ngôn ngữ của nhau nên ít có khả năng trốn hoặc liên kết với nhau để chống lại chủ

[13] Nikiphôrôv: Lịch sử thế giới, tập I, cuốn I, NXB Sử học, Hà Nội, 1962, tr.137

[14] Nhà nước có thuê nô lệ của những chủ nô tư nhân

[15] Con cái do nữ nô sinh ra là tài sản của chủ nô

[16] Từ năm 490 đến năm 471 TCN, phái dân chủ giành ưu thế thémistocle cầm quyền đã thực hành nhiều biện pháp dân chủ tiến bộ. Tới năm 471 TCN, phái bảo thủ tấn công thắng lợi thông qua chế độ “bỏ phiếu bằng vỏ sò”, phái bảo thủ đã trục xuất Thémistocle khỏi Athènes và đưa Simon (Ximông), người thuộc phe mình, lên cầm quyền cho mãi tới năm 462 TCN

[17] Ephialtès xuất thân từ một gia đình quý tộc sa sút, một người mà theo Hérodote: “trung thành với Tổ quốc, cương trực, không ai có thể mua chuộc được”

[18] Lời Platon, một đại biểu của pháp bảo thủ.

[19] Thời kỳ này, văn hóa Athènes đạt tới đỉnh điểm của sự phát triển, có những nhà triết học, nhà thơ, soạn kịch nổi tiếng trong thế giới cổ đại như Démocrite, Anasagore, Hérodote, Eschyle, Sophocle, Phidias…

[20] Trừ những quan chức đòi hỏi phải có tài năng (như 10 tư lệnh) hoặc phải có tài sản lớn (như Giám đốc Ngân hàng Athènes)

[21] Đồng minh quân sự do Athènes thiết lập và lãnh đạo sau chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư gồm gần 200 thành bang Hy Lạp với mục đích đề phòng một cuộc xâm lược mới của người Ba Tư và cũng giúp đỡ nhau để phát triển kinh tế ổn định xã hội. Trụ sở của đồng minh lúc đầu đặt Délos, sau chuyển về Athènes

[22] Hiệp ước năm 404 TCN quy định; 1. Athènes phải giải tán đồng minh Délos do mình lãnh đạo; 2. Athènes phải hủy bỏ lực lượng hải quân, chỉ được có 12 thuyền chiến; 3. Athènes phải phá hủy tất cả các công trình phòng thủ, nhất là ở quân cảng Pirée; 4. Athènes phải bãi bỏ chế độ dân chủ, chính quyền Athènes mới được chuyển vào tay 30 độc tài, do Critias (Critiat) cầm đầu

[23] Nhiều nhà sử học cho rằng, người Macédoine cũng là một nhánh của tộc người Hy Lạp

[24] Đoàn viễn chinh của Alexandre trở về Lưỡng Hà bằng hai đường thủy, bộ. Đoàn thủy do Đô đốc hải quân Nêaccut chỉ huy, xuôi sông Ấn, ven bờ vịnh Pecxich, vào cửa sông Euphrate về Babylone. Đường bộ do Alexandre và Cratơ chỉ huy, vượt quãng đường dài trên 800km, mất 2 tháng ròng rã, nỗi gian truân và bệnh tật đã giết chết nhiều binh sĩ Macédoine

[25] Hiện nay vẫn chưa có ý kiến thống nhất về thời gian bắt đầu của thời kỳ Hy Lạp hóa. Có người cho rằng nên lấy mốc năm 328 TCN (khi Alexandre chết). Có người cho rằng nên lấy mốc bằng sự kiện đế quốc Alexandre Macédoine phân liệt thành ba quốc gia (đầu thế kỷ III TCN)…

[26] Mythologie được cấu tạo bởi hai từ: Mythos (truyền thuyết, huyền thoại) và Logos (ngôn từ truyện kể)

[27] Cũng kể về Prométhée, nhưng Prométhée trong thi ca của Hésiode (Hêdiôt) khác với Prométhée trong Prométhée bị xiềng của Eschyle. Cũng kể về Orextơ giết mẹ để trả thù cho cha, nhưng vở Côêpher của Eschyle khác với vở Êlêchtơ của Sophocle và Êlêchtơ của Euripide

[28] K. Marx – F.Engels. Tuyển tập, tập II Sđd, tr.680

[29] Người Hy Lạp gọi “thế hệ thần trẻ” do Zeur đứng đầu là các thần Ôlimpơ

[30] Từ huyền thoại này. Etsin đã xây dựng thành công vở bi kịch đậm đà chủ nghĩa nhân văn: Prométhée bị xiềng

[31] Tương truyền là của Homère. Hiện nay “Vấn đề Homère” vẫn chưa có những ý kiến thống nhất, thậm chí còn trái ngược nhau

[32] Sapho sinh năm 600 TCN. Bà cũng đã từng mở nhiều trường học dạy con cái các nhà quý tộc: dạy âm nhạc, khiêu vũ, thi ca…

[33] Tác phẩm ra đời sau cuốn sử Xuân thu của Khổng Tử khoảng vài chục năm, do vậy còn được coi là bộ sử đầu tiên của thế giới cổ đại

[34] Bản thân Thucydide đã từng là nhà chỉ huy quân sự Athènes trong cuộc chiến Péloponèse

[35] Vì phát minh này, Arixtac bị kết tội là kẻ quấy phá sự yên tĩnh của các thần Ôlimpơ”. Mãi 1.800 năm sau (thời Phục hưng), Nicolas Copernicus và Galileo Galilée (người Italia) mới phát hiện lại chân lý ấy và thành người sáng lập ra thuyết này

[36] Bản đồ thế giới của Hêcataut mới miêu tả được phần trung tâm của bản đồ thế giới hiện đại: khu vực Địa Trung Hải, Bắc Ai Cập, Tiểu Á, Mésopotamie (Mêzôpôtami), Trung Ávà Tây Bắc Ấn Độ

[37] K. Marx – F.Engels: Tuyển tập, Tập II, Sđd, tr.631

[38] Trước thế kỷ XVII, ngôi đền này còn được bảo tồn tương đối hoàn chỉnh. Từ cuối thế kỷ XVII, trong cuộc chiến tranh giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Vênêdia, đền Parthénon đã bị tàn phá nặng nề, nhiều hiện vật quý bị thất lạc

[39] Phần này trích trong cuốn Lịch sử thế giới Cổ đại. NXB Giáo dục, 1998

[40] Đền Erechtheion dành để thờ hai thần Athéna và Poséidon. Trong kiến trúc đền đài Hy Lạp thì Erechtheion là đền duy nhất có mặt bằng không đối xứng, đó là một hiện tượng kỳ lạ, nhưng lại trở thành một kiệt tác. Đền Erechtheion được xây dựng sau đền Parthénon. Khởi công năm 424 và hoàn thành năm 406 TCN. Sự xuất hiện Erechtheion cạnh đền Farthénon đã làm tôn thêm vẻ đẹp của quần thể kiến trúc Acropole. Hai công trình với hai vẻ đẹp hoàn toàn khác nhau đã đối thoại với nhau, tạo nên không gian phong phú. Parthénon thì mạnh mẽ, cao lớn, có mặt bằng hoàn toàn đối xứng với thức cột Dorich. Erechtheion thì nhỏ hơn, đứng nép một bên, duyên dáng với thức cột Iônic và hàng cột Cariatit (những cô gái nô lệ xứ Caria), và mặt bằng đền ở thể tự do, không đối xứng. Hằng năm, ở Athènes có tổ chức lễ tôn vinh nữ thần Athéna ở Acropole và cứ bốn năm có một lễ trọng. Tại đây, người ta tổ chức thành một đoàn rước lễ diễu hành về Acropole. Trên đường đi quanh đồi Acropole, họ có thể nhìn ngắm các công trình ở trên đồi xuất hiện lần lần dưới những góc độ khác nhau. Sau đó, theo các bậc đá, đoàn rước lễ lên đồi vào cổng Propylées; từ đây quần thể kiến trúc và Tượng đài trải rộng ra khang trang, lộng lẫy, với ba công trình chính là Parthénon, Erechtheion và tượng Athéna ngoài trời (vì trong đền còn có tượng Athéna nữa). Cuộc lễ bắt đầu, các thiếu nữ đang dâng áo choàng mới cho tượng nữ thần Athéna. Tượng này bằng đồng, cao 9m, khảm ngà voi và vàng (số lượng trên 1 tấn vàng). Đây là một tác phẩm điêu khắc lớn của Phidias, nay không còn nữa. Ngày nay, các di tích Parthénon, Erechtheion, Fropylées và Nikê vẫn còn, tuy không toàn vẹn nhưng vẫn là một điểm du lịch nổi tiếng Hy Lạp, là mẫu mực cho giới kiến trúc sư và nghệ thuật tạo hình trên thế giới đến chiêm ngưỡng, suy tư. Các nghệ sĩ Hy Lạp thời xưa là những bậc thầy về nghệ thuật thị giác: những cột biên của công trình Parthénon lớn hơn các cột giữa một chút và cũng hơi nghiêng vào trong, khoảng cách các cột biên với cột bên cạnh cũng lớn hơn khoảng cách các cột giữa một chút, tất cả những thủ pháp tài tình này đều nhằm điều chỉnh những sai số thị giác của một công trình đồ sộ trong không gian. Phần điêu khắc của Phidias ở Parthénon là những kiệt tác với một khối lượng lớn điêu khắc ở hai mái hồi, 92 hình điêu khắc trên khung mêtôp, 200m dải băng trang trí đầu cột. Cái đẹp mẫu mực mà Phidias đạt được là sự hài hòa giữa thể chất và tinh thần của con người, mang tính chất nhân văn rất cao. Con người được ca ngợi và trở thành thước đo mọi giá trị thẩm mỹ. Điều ấy được thể hiện rõ nhất trên nét điêu khắc về sự ra đời của Athènes trên mái hồi phía Đông và cuộc chiến đấu giữa Athènes và Poséidon trên mái hồi phía Tây. Đền Parthénon xứng đáng là kiệt tác mẫu mực nhất về cái đẹp của kiến trúc Hy Lạp cổ điển, nó là chuẩn mực về kiến thức và điêu khắc cho nghệ thuật phương Tây suốt hàng chục thế kỷ sau

[41] Trường phái Epieure do Epieure sáng lập ra, là trường phái triết học duy vật kế thừa những quan điểm của các nhà triết học duy vật, đặc biệt của Démocrite. Trường phái này cho rằng nguyên tử là những phần tử nhỏ nhất cấu tạo nên vạn vật, các nguyên tử có hình dáng, kích thước và trọng lượng khác nhau. Các nguyên tử vận động, kết hợp theo những quy luật của nó. Con đường duy nhất để tồn tại không phải dựa vào thần thánh, mà phải theo những quy luật của giới tự nhiên. Trường phái Xinit do Antixtan (học trò của Socrate) thiết lập, chủ trương phản đối mọi quyền lực trong xã hội, xa lánh cuộc sống xa hoa, kêu gọi mọi người quay về cuộc sống ẩn dật, giản dị, chất phác, gần gũi thiên nhiên, dù có phải thiếu thốn mọi thứ. Trường phái Xinit thực chất thể hiện những quan điểm tư tưởng của chủ nghĩa hư vô và ẩn dật trong xã hội Hy Lạp. Trường phái Xtôixit (khắc kỷ) do Dênô (người đảo Chypre) sáng lập ra là trường phái duy tâm, chủ trương con người phải sống theo đạo lý, chủ trương sống nhẫn nhục, chịu đựng gian khổ, lấy sự phục tùng làm đức tính tốt nhất của con người, để đạt tới “lý tưởng Vũ trụ” mà mọi người (kể cả nô lệ và ngoại kiều) đều có quyền bình đẳng

[42] Được coi là nhà triết học duy vật vĩ đại nhất của Hy Lạp cổ điển, là người đã từng có những cuộc tranh luận công khai, quyết liệt với các nhà triết học duy tâm như với Socrate, Flaton. Ngoài triết học, Démocrite còn là nhà khoa học uyên bác (toán học, vật lý, y học, thiên văn học, tâm lý giáo dục, ngôn ngữ học)

[43] Trích trong Lịch sử thế giới cổ đại, NXB Giáo dục, 1998

[44] Tức quân Ba Tư

[45] K .Marx – F. Engels: Luận văn quân sự

[46] Alexandre Đại đế, theo tiếng Hy Lạp là Alexandros. Tại xứ Macédome thời ấy, có ba vị vua cùng tên là Alexandre, nhưng chỉ có Alexandre Đại đế là nổi tiếng nhất. Thuật ngữ Alexandros, theo tiếng Hy Lạp, có nghĩa là nguồn che chở. Thời ấy, ngoài các bộ môn khoa học, địa lý, lịch sử, Alexandre còn được học nghệ thuật quân sự qua những trận đánh chống lại người Tharaches, người Jelyriens của cha mình. – B.T

[47] Vừa lên ngôi vua, Alexandre đã phải tiến hành cuộc chiến tranh chống lại cuộc nổi loạn của nguời Hy Lạp. Kết thúc cuộc chiến, ông đã cho quân san phẳng thành trì Thèbes, riêng thành Athènes thì giữ lại. Rồi tiến hành chinh phục người Barbares ở phía Bắc Macédoine và người Jelynens. Alexandre đã hoàn toàn chiến thắng tất cả các đạo quân mạnh nhất thời ấy và trở thành vị chúa tể lừng danh Hy Lạp. Điều đặc biệt của Alexandre là sau khi chiếm được miền cực Tây của châu thổ, ông đã cho xây dựng ở nơi đây một thành phố đẹp nổi tiếng mang tên ông: Alexandrie. – B.T

Sơn Phạmhttps://rams-vnu.org
Yêu thích các môn khoa học xã hội, thích tìm hiểu và khám phá địa lý, lịch sử nơi mình ở và nhiều nơi trên thế giới.
RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Most Popular

Recent Comments